Sign up

PHÉP TÍNH MƯA / NỐI CẦU VÒNG

PHÉP TÍNH MƯA

 

Hành động gãy từng khúc 

Vung lên những đồng tiền vàng

 

Tấm thân truồng thả tiếng đàn tội lỗi vô vô tận 

một tiếng cười xõa tóc 

Đầu trọc tức thì.

 

Người ẩn hiện nháy từng cánh sao mai 

ở trên lối hành hình khớp đường vô chân lý rải vô lô nhô

 

Mỗi cây đinh nung đỏ . . .   

tôi đi qua cơn mưa ướt theo dấu chân bò con gặm cỏ 

rút gọn từng độ sâu gợn xanh 

kẻ tu nghiệm tìm chỗ đi ngồi vạn năm.

 

Người ta về ngã ba lẩn trốn 

bỗng tôi muốn núi rừng hiện ra

 

Một tiếng hú bên tai kinh hoàng 

Tỉnh thức kệ cho đời chảy rong . . .

Con gà trắng mây gáy tiếng nói vòng mắt thời gian 

giới hạn ánh sáng

 

Tôi sắp đặt bản đồ tâm cõi phân định bờ 

năng lượng mùi đêm vận hành.

 

 

NỐI CẦU VÒNG

 

 

Có không bóng ai đó 

leo lên trời cong bốn dấu chấm điểm 

Bàn tay em đẹp lộng lẫy mọc ra chiếc răng nanh

 

Tiếng nói của lưỡi con rắn độc 

từ đâu cất tới. 

 

Nơi ngũ sắc vo chân không xuống lồng đỏ 

bay vào lục bình trôi sông tủa khói 

tôi cánh chim từ lồng ngực  

bình minh rọi bộ xương sườn hiện nguyên vẹn 

Tro xám lấp lánh hình vị nhân cộng trừ định mệnh

 

Vỡ tan mờ ảo trong mảnh kính trắng tung tăng bọt

 

Nhìn đi lên đỉnh núi dây cung tên căng miền sâu thẳm 

Thoát vô tầng ánh sáng thứ tự lớp 

Để tôi nghe thấy lõi trái đất chín nở bốn mùa

 

Này linh hồn tảo tần xới tấm thảm đầy mật ngữ 

Thế giới sắc màu nguyên sơ.

 

Để tôi núp trong bụi cây quạt đám mây đen mưa tức thì 

Gió thổi . . . 

rát khuôn mặt ám nằm lỳ trên đất cát

 

Sa mạc đếm gì từng hạt cát bé vàng áo nắng bồng tôi lên

 

Thân nghiêng hôn phối lên má đào tơ 

đôi tờ vú vo cuộn không cháy rụi hồn pha dòng sóng điện

 

Nhảy li ti điểm hoa chân ma xác bay. 

A tôi đảo quanh đây một vòng.

 

Huỳnh lê Nhật Tấn

 

(3) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

LẦN ĐẦU TIÊN THƠ TRÌNH DIỄN TẠI FESTIVAL THƠ HUẾ / TÁM NHÀ THƠ TRÊN SÂN KHẤU SÁU MẶT

 

TP - Nhà lục giác bên bờ sông Hương trở thành sân chơi của thơ tối Chủ nhật 6-6. Đây vốn là nhà kèn để chiều cuối tuần dàn nhạc kèn ra chơi. Chỉ có vậy cùng mưa lất phất và gió Hương Giang xuyên qua sáu ô cửa gió, một đêm thơ trình diễn được tạo tác... Tám nhà thơ đến từ ba miền đất nước.

 

 Chỉ là 8, tám người trình diễn, trong khi dự định là 9. Cất công từ Buôn Mê (Đắk Lắc) xuống, nhưng thi sĩ Lê Vĩnh Tài vẫn ngại lên sân khấu với kịch mục đã định trước. Dù ít ra hai lần Festival thơ Huế gần đây, Tài đã ngồi nghê nga đọc thơ giữa nhà lục giác này, với sân khấu hoang dã chỉ là những cái két rỗng vốn dùng đựng vỏ chai bia, trước "thực khách" thơ là người qua kẻ lại. Hai chữ trình diễn (performance art) khiến nhà thơ cảm thấy nặng gánh chăng?

 

Nhà thơ Nguyệt Phạm mở đầu bằng tác phẩm Đấu Giá.

 

Tám cái tên, về Huế trình diễn đêm của "Những nấc thang", gồm Huỳnh Lê Nhật Tấn  (Đà Nẵng), Nguyệt Phạm, Chiêu Anh Nguyễn, Tuệ Nguyên, Đồng Chuông Tử (TP.HCM), Lê Hưng Tiến (Ninh Thuận), Nguyễn Quỳnh Trang, Lê Anh Hoài (Hà Nội). Người dẫn chương trình vẫn không ai khác ngoài nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên. Đều là những tên tuổi không xa lạ gì với thơ trình diễn và thơ nói chung. Trong đó có nhiều người đã tham gia góc thơ sắp đặt tại sân thơ trẻ 2010 Văn Miếu - Hà Nội...

 

Nhà thơ Chiêu Anh Nguyễn trình diễn thơ trên sân khấu, đệm đàn: nghệ sĩ MPK Phước Khùng. Ảnh: Trần Đỗ Nghĩa.

 

Khán giả đã bị hút ngay từ đầu khi Nguyệt Phạm bước ra "Đấu giá" chính mình. Với áo dài trắng thanh khiết và động tác chừng mực nhưng ám ảnh: "Mỗi ngày tôi tự đấu giá mình.../Mỗi ngày tôi tự đọc mình/Một cuốn sách dần mất chữ ...". Nguyệt Phạm đã cho người dán lên mình những tờ giấy in mã vạch hàng hoá và giá cả, những tờ giấy mà nhà thơ xé rơi lả tả như những khoảnh khắc sống.

 

 Tưởng chừng rất hiền là tác phẩm Tự họa của Chiêu Anh Nguyễn, nàng thơ trong bộ lụa trắng, thấp thoáng sau một khung lụa nữa, tương phản với anh chàng MPK Phước Khùng râu tóc đang ngồi bệt trên sân khấu lục giác ngấu nghiến chiếc ghi ta thùng buông những tiếng sai dây cố ý. Nhưng những câu thơ của Chiêu Anh Nguyễn lại dữ dội: "Lơ lửng dưới chân/bắt gặp thi thể mình/ghim chặt trên khung toan/trắng muốt ...".

Piano dậy nhẹ như chiều dạo trên sông. Nhưng là sông Hồng, với bóng một nữ nhà thơ đến từ châu thổ - Nguyễn Quỳnh Trang- áo váy đứng lặng. Màn chiếu sau lưng, hoàng hôn về tối. Nền dương cầm của Vũ Nhật Tân chấp chới. Quỳnh Trang đứng lặng trước màn hình, trên đó những hình ảnh của chính cô slide show chấp chới: "Tôi đã ở đây trong cuộc sống này ... Tôi đã ở đây với hơi thở này/ dù phải đánh đổi trăm ngàn thống khổ bóp nghẹt lí trí/ dù ngã xuống để phải bò từng bước đi lên ...".

Có phải vì thế mà nhà nghiên cứu, dịch giả Nguyễn Tiến Văn, người cất công đi theo nhóm trình diễn từ đầu đã nhận xét: Đa phần các tác phẩm trong cuộc trình diễn, các nghệ sĩ đã quan tâm phô bày bản thể của chính mình.

Hình thức trình diễn chỉ trong 8 tác phẩm những rất đa dạng. Huỳnh Lê Nhật đọc thơ kết hợp vẽ trực tiếp trên sân khấu với hai màu đen-trắng trên nền nhạc Như cây đã khô (Diệp Chí Huy); Đồng Chuông Tử tạo ra những hoạt cảnh đời thường sinh động để đưa ra triết lý: Im lặng để tránh xung đột (tác phẩm Mùi thơm của im lặng); Tuệ Nguyên dùng bức màn ngăn cách và khoảng sáng - tối để lột tả sự tha hoá tâm hồn và nhân cách con người tôi một nộm hình tang trắng/ cùng ở phía bên kia của cánh cửa khép/ có người đi tìm kẻ đã chết... (tác phẩm Cánh cửa khép); Lê Hưng Tiến nhấn mạnh biểu tượng trái tim thơ bị xé tan, bên cạnh những con người phục trang đầy chữ (thư pháp)...

Bốn phút Loanh quanh của Lê Anh Hoài hóa ra lại chói gắt hơn bình thường giữa khung cảnh đêm Huế, với những động tác hình thể nhanh mạnh, sắc đen của phục trang và sắc trắng của giải băng bịt mắt trên nền video art đầy xung đột (tác giả Nguyễn Hoàng Hương, Phan Vũ Thanh Phương, Lê Anh Hoài). Tác phẩm Loanh quanh của anh phản ánh hoàn cảnh và tâm thức của con người thời hiện đại, nhiều khi không tìm được chuẩn mực và giá trị sống, không phải vì không có, mà phải chăng vì có quá nhiều, quá tải?

Đa dạng, đa chiều như thế, nên công chúng, và cả nhiều nhà thơ có mặt tại đêm trình diễn không khỏi giật mình. Để tự hỏi: "Vậy, thơ là gì? Và trình diễn thơ là gì?". Nhất là trong bối cảnh thơ trình diễn lần đầu đến với công chúng Huế.

Người viết bài này thử làm ngay một cuộc phỏng vấn "bỏ túi". Người dẫn chuyện Phạm Xuân Nguyên cười: "Các bạn có để ý thấy chương trình bị chậm mất mấy mươi phút vì lý do kỹ thuật, các nhà thơ tất tả chạy lên chạy xuống? Âu cũng là trình diễn thơ đấy !". Nhà thơ Phạm Nguyên Tường - Chủ tịch Hội nhà văn Thừa Thiên - Huế, nhà tổ chức sự kiện: "Muốn đưa trình diễn thơ về Huế để công chúng yêu thơ có dịp mục sở thị thơ trình diễn đương đại. Bởi lâu nay thậm chí nhiều người vẫn hiểu trình diễn là ngâm, đọc, thư pháp..., điều mà chúng tôi đã tổ chức từ vài Festival trước. Còn cảm nhận xin tùy vào mỗi người".

Nhà thơ Ngô Minh: "Ghi nhận sự cố gắng của ban tổ chức. Tôi luôn ủng hộ sân chơi của anh em trẻ. Tuy nhiên riêng tôi không thích trình diễn thơ. Thơ không trình diễn. Với tôi, thơ là của một người, chứ không phải cuộc chơi của nhiều người ...". Cùng ý này còn có nhà thơ Phù Hư. Tuy nhiên, những nhà thơ tiếp cận nhiều hơn với nghệ thuật đương đại và hậu hiện đại như Phùng Tấn Đông, Liêu Thái thì lại tỏ ra tâm đắc. Dường như một sân thơ nhỏ đã trở thành một tiêu điểm cho tranh luận.

Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật đến từ Quảng Bình, cởi mở: "Tất cả mọi hình thức nghệ thuật đều phải được tôn trọng như nhau khi đến với độc giả và khán giả. Không lý do nào để nói trình diễn thơ là cách "giết chết thơ", hoặc làm thơ mệt mỏi. Người xưa vẫn có không gian trình diễn của riêng mình, có thể là tấu, vè, tiếng đàn, bộ gõ...Nay thì là piano, các nhạc cụ, kỹ thuật hình ảnh khác, tại sao lại cảm thấy nhức mắt, theo tôi như vậy là không công bằng. Vấn đề là làm sao gợi ý cho khán giả hiểu và đến với bài thơ bằng nhiều cách. Đối với Huế đây là lần đầu tiên, dù các phần trình diễn chưa đều tay, nhưng việc mời gọi sự cộng cảm là rất đáng quý với Huế...".

 Trí Quân

 

 

(4) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

THƠ SẮP ĐẶT 2010: HẠN CHẾ BỞI KHÔNG GIAN

TP - Ngày thơ Việt Nam lần thứ VIII được chờ đón rất nồng nhiệt trong lòng người yêu thơ từ nhiều tháng trước đó. Năm nay, sân thơ có nhiều hình thức mới, đặc biệt là góc sắp đặt, thơ tại sân thơ trẻ khiến công chúng không khỏi trầm trồ, ngưỡng mộ khi đến tận nơi thưởng ngoạn.



Tiêu điểm của Ngày thơ Việt Nam vẫn là sân thơ trẻ. Năm nay, ngoài những "góc thơ" đã trở thành quen thuộc như Thơ truyền thống, Thơ trình diễn còn có thêm Thơ sắp đặt. Sáu tác giả tham gia còn khá trẻ, đều có những trăn trở sáng tạo.

Lê Anh Hoài thể hiện tác phẩm "Nhu cầu" với chiếc xe máy được phun sơn trắng, viết những dòng thơ từ bài thơ cùng tên một cách ngẫu hứng lên khắp thân xe, chắp đôi cánh trắng rồi treo trong một chiếc lồng chim khổng lồ, sơn màu vàng nhũ óng ánh.

Chiếc xe còn được anh dán lên nhiều hình ảnh trong tạp chí, từng đoạn báo khá công phu, tạo không khí rất đương đại. Huỳnh Lê Nhật Tấn sử dụng những ống nhựa PVC có vẽ những khuôn mặt người nhập nhoạng, nón lá và những con hạc giấy nhiều kích cỡ to nhỏ sắp đặt theo chủ đề "Trong bé nhỏ đến rộng lớn".


Gốc sắp đặt trong bé nhó đến rộng lớn...


Nhã Thuyên với bộ cửa gỗ cũ gắn những bức phù điêu mở ra phía trước gợi nhiều liên tưởng cho người xem...Góc thơ sắp đặt thu hút được số lượng người xem rất đông, trong đó có không ít người nước ngoài. Có lẽ đây là lần đầu tiên người yêu thơ được thưởng thức thơ với hình thức mới nên không khỏi có những thắc mắc, băn khoăn.

Nghệ thuật sắp đặt (instalation art) là một loại hình nghệ thuật gần đây đang được quan tâm tại Việt Nam, đã có nhiều họa sỹ thể nghiệm và thành công. Nhưng với nhà thơ, hình thức này vẫn còn mới.

Hơn nữa, tư duy về tác phẩm loại này phải bắt đầu từ thị giác chứ không phải bắt đầu từ con chữ. Có lẽ vì vậy mà một số thi sĩ có phần lúng túng khi làm thơ sắp đặt bởi quá lệ thuộc vào con chữ nên chưa có sự thăng hoa trong tác phẩm.

Yếu tố quan trọng nhất đối với một tác phẩm sắp đặt (nói chung) là không gian, mỗi tác phẩm cần phải có một không gian phù hợp, trong đó tác giả có thể bài trí hiện vật, điều chỉnh ánh sáng theo ý đồ nghệ thuật của riêng mình.

Sự độc lập của mỗi tác phẩm là điều không thể xem nhẹ, không thể chấp nhận sự trình bày theo kiểu "liên hoàn" những tác phẩm của nhiều tác giả, bởi cá tính sáng tạo của mỗi người không giống nhau. Cũng cần nói thêm, ở góc sắp đặt lần này còn khá nhiều tác phẩm chỉ đơn thuần là viết chữ trên mặt phẳng.

Ngoài ra, khoảng cách cần thiết giữa người xem và tác phẩm cũng cần được lưu tâm, không phải bất kỳ tác phẩm sắp đặt nào cũng có thể cho người xem sờ mó, thay đổi vị trí hay thậm chí... ngồi cả lên trên như dư luận đã phê phán.

Gặp lại tác giả sau ngày thơ, Huỳnh Lê Nhật Tấn bày tỏ sự nuối tiếc: "Giá như có một không gian rộng hơn, tôi có thể làm được nhiều điều hay hơn nữa.

Thực ra tác phẩm của tôi khi mang (từ Đà Nẵng) ra đến sân thơ trẻ lần này đã bị giản lược đi rất nhiều về ý tưởng để phù hợp với diện tích cho phép". Anh nói thêm: "Nhìn tổng thể góc thơ sắp đặt thì chỉ có "Nhu cầu" của Lê Anh Hoài được coi như tác phẩm tương đối độc lập, không bị hạn chế bởi mặt phẳng đứng của tấm panô dựng phía sau".

Nhà văn Võ Thị Xuân Hà chia sẻ cảm nhận về thơ sắp đặt: "Đây là một loại hình đã có trong truyền thống của cha ông ta (xưa kia các cụ cũng đã đề thơ lên khăn áo, lên quạt, khắc thơ lên đá...).



Nhưng các tác giả trẻ ngày nay có những sáng tạo rất độc đáo trong sân chơi của mình, tạo nên nét mới, sự bứt phá cho thơ ca đương đại Việt Nam".

Ngày thơ đã kết thúc thành công. Người xem được một buổi "mãn nhãn", người nghe cũng cảm thấy thật ấm áp với những vần thơ hay. Và không ít người tỏ ra khâm phục sự thu xếp tài tình của các tác giả, tác phẩm: Trong một không gian chật chội dường ấy mà thơ (bằng nhiều hình thức, cách thức, nghi thức...) vẫn đến được đầy đủ với người đi xem.

                                                            Phan Long

(7) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

ĐÊM TƯỞNG NIỆM NHÀ THƠ - NHÀ BÁO ĐẶNG NGỌC KHOA

                                 

(4) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

KHOA SẼ VẪN CƯỜI NHƯ THẾ

KHOA SẼ VẪN CƯỜI NHƯ THẾ

                                                                                 
                                             


Tôi biết Đặng Ngọc Khoa khi đang là biên tập viên tạp chí Đất Quảng của Hội Văn nghệ Quảng Nam- Đà Nẵng. Bài thơ Người đào trốt nói về một cụ già và những trốt tre (tức những gốc tre già cỗi), có những ý lạ và một cách viết phóng túng nhưng già dặn, dễ khiến người ta nghĩ tác giả đã là người lớn tuổi. Vì thế nên khi gặp Khoa tôi đã khá ngạc nhiên trước vẻ thanh mảnh thư sinh của một thanh niên có đôi mắt trong veo và một vẻ e dè hình như có hơi quá một tí.


Khoa hẳn là kỹ tính, không nôn nóng, nên thơ gởi tới không nhiều, không dồn dập như thường thấy ở nhiều cây bút trẻ. Sau đó Khoa cũng in thêm trên Đất Quảng một số bài thơ hay nữa nhưng ấn tượng mạnh ở lại với tôi vẫn là bài thơ Người đào trốt.


Mãi đến đầu năm 1989, khi "bỗng dưng" về cộng tác làm báo ở Hội Liên hiệp Thanh niên Tỉnh (tôi được đại hội "tự bầu" vào Ban chấp hành chứ không ở trong danh sách "dự kiến"), tôi gặp lại Khoa trong tòa soạn tờ Diễn Đàn Thanh Niên, cùng với Huỳnh Kim Sánh, Hồ Trung Tú, Thế Dung, Phan Tấn Tu, Đoàn Bích Hồng, Phương Dung... và những cộng tác viên thân thiết La Thanh Hiền, Huỳnh Ngọc Chênh, Anh Vũ... Tờ báo đã được sinh ra một cách quyết liệt và đầy quả cảm, như một phép thử cho sinh hoạt văn hóa- tinh thần của thanh niên Quảng Nam- Đà Nẵng lúc bấy giờ.

Không có một sự phân công quá rạch ròi cụ thể. Ai có khả năng gì cũng đều được huy động và tận dụng. Vừa tự định trang mục, đề tài, vừa viết, vừa trình bày, vừa đi nhà in, vừa xuống đường rao bán báo, mỗi tháng hai kỳ... Khoa xuất hiện trước mắt tôi lúc ấy hoàn toàn tự nhiên thoải mái trong cái tập thể rất nhỏ, rất bận rộn nhưng tràn đầy tình thân, và Khoa bộc lộ rõ một cá tính rất thú vị: óc hài hước. Chẳng có việc gì lại không thể được Khoa chuyển hóa thành chuyện vui cười. Được phân công viết một bài khó: nói nhộn nói nhạo trước khi đồng ý. Bị la rầy khi có vấn đề gì đó trong công việc: tỉnh bơ khôi hài đen, cố tình dẫn dụ người nghe ra thật xa vấn đề chính. Nói ngược nói bịa để mọi người quên đi sự lên ruột thường xuyên ở một tòa soạn chỉ có mấy mống (đóng đô ở 30 Bạch Đằng) những lúc báo sắp lên khuôn mà bài chưa đủ hay, hoặc đang cần chi tiền mà tiền thu vể chưa đủ để chi, cả đám cứ mặt xanh nanh vàng... Chọc cười khi nghe độc giả già trẻ khen tờ báo và chọc cười vì... chẳng có lý do gì cả.


NHATTANHL


Trong vai trò một người chị nghiêm khắc, tôi luôn đưa ra những câu la mắng vừa đùa vừa thật  để kiềm chế bớt sự tinh nghịch đầu tàu của Khoa nhưng nhiều hơn một lần tôi cứ phải phì cười vì những câu trả treo tréo ngoe cẳng ngỗng chẳng giống ai  của Khoa, kể cả bằng... văn vần. Khả năng làm "thẩn" (chứ không phải thơ) kiểu này thì Khoa đúng là thuộc loại có hạng.  Để trêu chọc tôi, Khoa có thể làm hẳn một bài hoàn chỉnh có đủ ý- tứ, mở- kết, nhanh như chớp, phát huy tối đa cái tài xuất khẩu thành... thơ Bút Tre.


Tôi rời báo Diễn đàn Thanh Niên sớm hơn mọi người, và sau đó vào Sài Gòn làm báo Tuổi Trẻ, tháng 4 năm 1991. Khi chuyển sang Thanh Niên, từ tháng 4 năm 1996, tôi gặp lại Khoa, lúc ấy đã bỏ xứ vào sống ở Long Khánh, nghe đâu đang hết sức khó khăn về mọi mặt, phài cày cuốc kiếm ăn đúng như một nông dân. Hình như đây là thời gian Khoa "thất chí" nhất, uống nhiều nhất, ảnh hưởng đến sức khỏe nhất.


Sau này, mọi chuyện ổn định, từ gia đình đến công việc, bài viết của Khoa xuất hiện nhiều hơn, đều hơn, nhưng dù ở lĩnh vực nào, với đề tài nào, trong những bài viết ấy vẫn luôn bàng bạc chút tài hoa lãng tử của một anh chàng đã trót dan díu với thơ.


Nhiều tuổi hơn, trải đời hơn, buồn hơn, mắt Khoa không còn trong như hồi còn làm ở Diễn Đàn Thanh Niên, tóc Khoa để dài ra, nói năng càng thẳng thừng gắt mấu rặt chất Quảng Nam nhưng tấm lòng thì vẫn nhân hậu, cho dù đã phải nhìn thẳng vào bao sự thật đau lòng. Tấm lòng ấy bộc lộ trong từng bài viết, trong những công việc rất cật lực, rất cụ thể, với những con người bất hạnh, hay những khi miền Trung bão lũ, mà Khoa là một phóng viên thường trú luôn đi đầu ở Văn phòng Đà Nẵng. 


Nghe Khoa ngã bệnh, tôi bàng hoàng nhưng không quá ngạc nhiên: từ bao lâu rồi, Khoa đã không hề thương thân mình như lẽ ra phải thế. Lúc nào Khoa cũng hết mình, cũng vắt kiệt mình, trong công việc cũng như trong những phút vui cùng bè bạn...


Trò chuyện qua điện thoại, Khoa kể về cha mình với căn bệnh kéo dài đã nhiều năm, nói về chính bệnh của mình, Khoa nhắc đến ba khối u di căn, nhưng Khoa không tỏ ra quá bi lụy, vẫn đùa, vẫn có vẻ còn hy vọng vào thang thuốc, được người cha ra tận Hà Nội bốc vào... Tôi nghĩ Khoa không hề cố gắng, mà Khoa tin rằng mình có thể qua khỏi thật. Vì bao giờ Khoa cũng lạc quan. Một người biết đùa luôn là một người sống lạc quan.

Trong máy tôi vẫn còn câu nhắn ngày 12.10 của Khoa sau khi gởi tôi mấy bài thơ: "Chủ nhật tới chị đăng đi. Sắp qua đời. Chị phi lộ đôi dòng cho ngơm". Bị tôi rầy là nói bậy, Khoa còn cãi: "Sắp tức là chưa mà. Hẹn gặp chị chỗ TCS đang uống rượu".


Hôm bay từ Hà Nội vào, tôi có ghé Đã Nẵng hai hôm để thăm gia đình, nghe rằng Khoa đã hôn mê, và căn bệnh đã tàn phá Khoa một cách rất kinh khủng. Tôi không dám đến nhìn Khoa, tôi không đủ sức chịu đựng sự thật quá tàn nhẫn ấy. Tôi muốn vẫn giữ lại trong mình hình ảnh một chàng thanh niên dong dỏng cao, gương mặt thanh tú với đôi mắt trong veo, đôi mắt của một đứa trẻ không bao giờ biết đến điều xấu.

Tôi tin Khoa vẫn mãi là đứa trè ấy, cho dù ở thế giới nào đi nữa...

                                                                 3.12.2009

                                                                             NGÔ THỊ KIM CÚC

 MỘT SỐ HÌNH ẢNH DO NHIẾP ẢNH GIA LÊ HẢI ACE GHI NHẬN HÔM
 MỞ CỬA MÃ NHÀ BẢO ĐẶNG NGỌC KHOA

 

(1) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

ĐẶNG NGỌC KHOA & MẸ

Những ngày cuối cùng cho chuyến ACE từ thiện đi ròng rã và tâm niệm. Có lẽ anh muốn làm điều gì đó cho vòng hồi sinh chính mình. Tôi không can đảm gặp anh cho những ngày anh lâm nghiệp cơ bệnh . Tôi đã khóc lặng cho đêm khuất bóng - và chỉ im lặng bởi đời người phù du. Và chỉ nhớ khuôn mặt thân thiện điền trai hát ngẫu tâm tình - ngộ tìm những vần thơ anh đọc ngẫu hứng.


Cái nhìn như câu chuyện kể chớm nở một ý tưởng mới

Kỷ niệm ngày đầu tiên gặp anh là ngày mẹ anh ra đi. Nhớ khuôn mặt anh trông vào cơn gió thổi lùa qua mái tóc xoắn rớm bạc. Tôi thấy anh rưng giọt nước mắt mỗi lần đến ngày dỗ nhớ mẹ. Và bài thơ anh viết cho Mẹ và nhớ Mẹ....


Ngẩu hứng chữ

Buổi chiều tháng mười chớp đông lạnh lẽo, sắp vào ngưỡng mùa xuân trên mảnh đất đầu gió và sóng biển mặn dạt dào. Tôi vẫn không can đam cho anh xem seri chân dung Đặng Ngọc Khoa - Ký ức tuổi trẻ ẩn hiện và oán nghiệp... Anh Khoa ơi .... Món qua như gửi vào định mệnh chơi vơi...


Trạng thái chính mình được trở về ...

Ngày sắp đến hạnh phúc sẽ tan dần - mãi nhớ khi nghe anh nói, tiếng nói cười thân thiện như Anh Cõng Em. Em cõng Anh....ACE


NHỚ MẸ


Ngày Tết

đi qua hàng trầu cau

bỗng nhớ

Mẹ ta 

xưa ãn trầu môi đỏ


Cái cối xay

Cái ông bình vôi

Còn hằn dấu vân ngón cái

Một trăm năm

Một nghìn năm


Con không còn mẹ

Trên cánh đồng mồ côi

Chỉ cánh cò lẻ loi

Phõ phõ mây trắng góc trời...

Chiều mồng Hai


Con một mình về quê

Tay cầm miếng trầu

lặng lẽ

Biết tìm đâu

đôi bàn tay mẹ

Đặt lên

chữ hiếu

muộn màng! 

 Đặng Ngọc Khoa

(15) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

HUỲNH LÊ NHẬT TẤN " CHƠI NGÔNG" VỚI ÁP PHÍCH THƠ

TP - Tranh thơ của Huỳnh Lê Nhật Tấn bị nhiều người dè bỉu rằng "làm nghệ thuật viển vông, hao mòn công sức không được gì cả", nhưng anh thì nghĩ mình phải làm, dù phải bỏ tiền túi bởi niềm tin: Có cái gì mới lạ hãy nên thử nghiệm dù không thành thì kẻ khác làm tiếp sẽ đẹp đẽ hơn.



Áp phích thơ là cái tên vui vui do tôi đặt ra, còn Tấn gọi thể loại nghệ thuật mà anh theo đuổi bằng cái tên Tây ta hỗn hợp là "tranh thơ graphic art". Thôi thì cứ gọi tạm những tác phẩm của anh là tranh thơ.

Xem tranh thơ của Tấn, nếu cố gán ghép cho nó một thể loại để hiểu, sẽ dẫn đến việc không hiểu nổi, và nhiều người đã nghi hoặc rằng Huỳnh Lê Nhật Tấn chơi ngông.

Nhưng Tấn thì đương nhiên không nghĩ thế, anh chỉ thích và làm, làm trên một trăm bức, để rồi chọn ra 49 bức đem từ Đà Nẵng ra Hà Nội triển lãm.

Trước hết, nói về thị giác, tác phẩm của Tấn gần với một trang trí đồ họa, đó có thể là một minh họa trên báo, tạp chí; một hình vẽ trên tường kiểu graffiti, thậm chí một tranh cổ động. Anh chế ra chúng bằng những phác thảo trên giấy, sau đó quét vào máy tính và dùng một số phần mềm đồ họa hoàn thiện.



Đó có thể là gì: một minh họa cho câu thơ, hoặc một câu thơ tức cảnh về bức họa? Tấn nói đa phần chúng xuất hiện song hành. Dường như anh tưởng tượng hình ảnh thơ trong não, ám ảnh nghĩa và hình màu cùng lúc. Anh phản đối việc quy chụp cho mình việc "minh họa cho câu thơ".

Tranh và chữ đi với nhau không phải là chuyện lạ: Một bức thủy mặc đề vài câu thơ, các cụ cũng đã làm; Bản thảo viết tay của nhà thơ Trần Dần là những tác phẩm đan xen thơ chữ hết sức độc đáo; Tranh cổ động với những hình ảnh cô đọng và một câu khẩu hiệu; Gần đây nhất là sự bùng nổ của truyện tranh; Những tấm poster, biển quảng cáo cũng là một hình thái của thứ graphic art này.






Tuy nhiên, Huỳnh Lê Nhật Tấn đi theo một con đường
khác hẳn. Cận cảnh vào những tác phẩm của anh, sẽ thấy nhiều gợi mở.

Nhiều chữ trên tranh  thơ của Tấn thực ra không phải là thơ theo nghĩa thường gặp. Trên một bức có hai người ngồi bên khung cửa là chữ "x+y"; trên một hình con cá có mũi đinh ba xuyên qua mắt là "những con cá ngái ngủ trong lưới"; cụm từ "lột xác" có mặt trong tổng thể những robot lơ lửng; trên một bức khá hỗn độn với cầu thang và hình người trừu tượng giống một nhũ đá có dòng chữ "góc vuông loài người"...

Kỳ thực, không thể tách chữ riêng và hình riêng để xem xét trong tác phẩm của Huỳnh Lê Nhật Tấn, chữ được trình bày như một phần của tranh, hình và màu của tranh lại đồng điệu với chữ tạo cảm giác. Đây chính là cái khác với lối vẽ một bức tranh hiện thực rồi sinh tình vài câu thơ, hoặc đã có sẵn vài câu thơ rồi vẽ một bức tranh phụ họa.

Ra Hà Nội làm triển lãm cũng với hai nghệ sĩ đồng hương (Mỹ Dũng - nhà nhiếp ảnh và Nguyễn Mỹ Lê - nghệ sĩ thị giác), tất cả đều phải bỏ tiền túi, khoảng tên dưới 60 triệu đồng, riêng Tấn cũng tiêu tốn trên chục triệu.

Số tiền này không nhỏ, nếu biết hiện nay nghệ sĩ này hành nghề tự do, đồng nghĩa với cuộc sống bấp bênh. May mà anh hiện vẫn "độc thân vui tính".

Viết báo một chút (Tấn là cử nhân báo chí), làm thiết kế ấn bản, rồi minh họa và làm thơ, ... Tấn chọn tư thế của một nghệ sĩ độc lập. Tuy vậy công việc làm tranh thơ của anh bị nhiều người dè bỉu rằng "làm nghệ thuật viển vông, hao mòn công sức không được gì cả", "triển lãm như thế chỉ là cuộc chơi ngắn đừng chơi làm gì".

Nhưng anh thì nghĩ mình phải thực hiện bởi niềm tin: có cái gì mới lạ hãy nên thử nghiệm dù không thành thì kẻ khác  làm tiếp sẽ đẹp đẽ hơn.

Cũng có thể lý giải nghệ thuật của Tấn phần nào khi cận cảnh một chút "trích ngang" của anh: Đam mê hội họa từ nhỏ và ước ao làm hoạ sĩ, hoàn cảnh đưa đẩy lại đi học báo chí nhưng trong những ngày học đại học báo chí Tấn lại vẫn mải mê vẽ minh hoạ cho các báo có trang văn học.

Rồi làm đồ họa kiếm sống, nay Đà Nẵng mốt Sài Gòn. Anh ám ảnh bằng những câu thơ:

Hãy đừng đánh mất hy vọng sống/ Dù nhịp đáy tim ta gào nguyên góc ngày dài phẳng/ Đắp ấm lên thân kẻ lạnh hồn/ Chiếc bàn tam giác & ánh đèn vàng gói đốm đen/ Ngôi nhà bụi ố khuất hiện thức lớp màng nhện phản xạ/ Câu thơ độc dược phản nghĩa nằm thổi anh bay đi/ năm cánh mẫu tự thả vào lục bình trôi...

Hiện nay Huỳnh Lê Nhật Tấn còn dự định sẽ chuyển dịch tranh thơ với phần lời là tiếng nước ngoài để thử nghiệm với người xem đa quốc tịch, đa văn hóa. Xem ra chàng trai sinh năm 73 này không chịu ngồi yên.

                                                                     Lê Anh Hoài

(7) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

HUỲNH LÊ NHẬT TẤN: " PHỔ THƠ THÀNH ...ĐỒ HỌA !

 

( VHTT) Những góc lặng khai mạc lúc 17h ngày thứ Bảy (21/3) tại Viet Art Centre, 42 Yết Kiêu, Hà Nội. Đây là triển lãm ảnh và tranh đồ họa của nhiếp ảnh gia Mỹ Dũng với chủ đề Nhìn, nhà thơ Huỳnh Lê Nhật Tấn với Dấu nối sinh tồn và nghệ sĩ thị giác Nguyễn Mỹ Lê với Cha mẹ tôi. Đây là lần đầu tiên nhà thơ Huỳnh Lê Nhật Tấn tham gia một triển lãm đồ họa, và cách của anh là "phổ" những ý tưởng thơ thành đồ họa.

Đang làm thơ, và tính in 1 tập trong năm nay, vì sao anh lại nhảy sang lĩnh vực triển lãm đồ họa, phải chăng bị "bí" đề tài?

Tôi không bí đề tài, nhưng vì tập thơ có nhiều hình ảnh, có nhiều "tâm sự" mà ngôn từ không nói hết được, nên tôi đành chuyển sang đồ họa, với hy vọng là nó sẽ thoáng đạt và dễ gần hơn. Qua cách tôi nhìn vào đời sống đô thị hiện đại, tôi hy vọng mình có thể nói lên được thân phận của những cuộc đời bị hoàn cảnh sống làm đổi thay chóng mặt.



Đến với triển lãm này, đơn giản là tôi muốn mang thơ vào phạm trù khác. Thơ tôi trình diễn và sắp đặt theo sơ đồ hình tôi vẽ. Một câu thơ được mường tượng bằng đồ họa vi tính và sẽ được hoàn thiện dần dần trong cách cảm, cách nghĩ của người xem.

* Trong Dấu nối sinh tồn lần này, anh muốn nói về những điều gì?

- Trước khi đặt chủ đề, tôi đã chọn lọc từ hơn 100 tác phẩm đồ họa và lược bỏ dần để còn lại 49 tác phẩm. Tôi thích con số 49, vì nó khá quan trọng trong đời người. Tôi muốn tái phát hiện một vài giá trị mà con người đã đánh mất nó từ khi rời bỏ thế giới nguyên sơ. Tôi cũng muốn đặt ra một dấu cộng với ngụ ý là trong đám đông đến không chịu nổi này, con người phải sống như thế nào, hay cứ phải chạy tìm các giá trị đang hiện hữu, giá trị cộng sinh... Tôi cũng nói về các vấn đề thuộc ý thức hệ, chuyện bản sắc, sự mai một và các giá trị thoáng qua...


Tranh thơ HLNT

Những ý thơ, những câu thơ trong được anh "phổ" như thế nào?


- Hầu hết được tôi chọn và đặt tình cờ, vì tôi quan niệm niệm thơ là sự tình cờ mà gặp được. Từ sự tình cờ mà thơ biến thành tranh, để mọi người nhìn ngắm, tôi hy vọng về một sự công hưởng. Có thể gọi tôi là người vẽ thơ cũng được, chuyển ý nghĩa từ âm, từ chữ sang nét và hình. Tôi cho rằng, bằng hình ảnh, thơ sẽ dễ có nghĩa với mọi người hơn. Từ hình, người xem có thể quay trở lại để yêu thơ, và yêu các ranh giới nghệ thuật khác.


* Thử nghiệm này của anh có vẻ còn xa lạ với công chúng?


- Tôi cũng chấp nhận bị phê phán vì các thử nghiệm về tranh thơ của mình. Tôi tự học hội họa, nên những kiến thức cơ bản có thể không đạt tới, hoặc bị vi phạm, nhưng tôi cứ làm, vì tôi mê tranh thơ. Mỗi bức tranh như một câu thơ, hoặc một tuyên ngôn của tác giả, một dấu nối đang muốn hoàn thiện giữa tác giả, tác phẩm và người xem.

Lý Đợi ( Văn Hóa Thể Thao)

(6) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

NHỮNG CHIẾM NGHIỆM TỬ SINH


( Tiền Phong) Đến Viet Art (Yết Kiêu, Hà Nội) những ngày này, dễ nhận ra một nhân vật khá nổi bật về ngoại hình: nhà nhiếp ảnh Mỹ Dũng. To con, râu rậm, nước da nâu sạm.

Gặp, người ta hơi choáng với vẻ "ngầu" của anh. Lại thêm cái giọng Quảng lúc nào cũng ồn ào, hào sảng.


Nhưng anh rất hiền, điều này khi ngồi lâu lâu với anh một chút thì nhận ra. Người hiền thì mắt hiền. Mỹ Dũng không chỉ thế, anh còn có con mắt "xanh".


Con mắt xanh này được ống kính máy ảnh hỗ trợ, ghi lại những khoảnh khắc thú vị của cuộc sống, theo cách nhìn của riêng anh.


Ra Hà Nội lần này, theo Dũng, là ra với không gian nghệ thuật đương đại. Có lý, vì hiện nay hoạt động nghệ thuật mới thì ở Hà Nội là mạnh hơn cả. Bởi lần này, anh không chỉ trình làng những bức ảnh, mà còn làm sắp đặt (installtion) ảnh với lưới, cây que và nhiều thứ khác. Sinh năm 1958, Dũng đã làm nhiều triển lãm ảnh nghệ thuật trong và ngoài nước.



 
Nhà nhiếp ảnh Mỹ Dũng bên tác phẩm sắp đặt


Anh em nghệ sĩ từ Đà Nẵng mà tôi gặp đều than, ở Đà Nẵng ít triển lãm quá. Mà dường như cũng không có không khí say nghệ thuật.


Những bức ảnh của Dũng được đặt thành từng cặp với những cái tên chỉ một chữ: Hạnh - Phúc; Sinh - Tử; Ơn - Nghĩa; Tiền - Tù, Phật - Pháp... Đây là những từ giàu nghĩa, thực chất đều là những khái niệm lớn trong đời người, có vị trí cao trong tâm thức tín ngưỡng Á Đông.


Ảnh của Mỹ Dũng có tải hết được các ý nghĩa này không - điều này nằm trong cảm nhận của mỗi người xem. Nhưng phải nói trong số này có nhiều bức có góc nhìn lạ: Một khung cửa nhỏ hẹp hắt ánh sáng vào đúng góc nằm tối tăm của người tù (Tù), một đám tang với những người ngư dân vẫn nguyên quần áo xuềnh xoàng khiêng chiếc áo quan lên chiếc thuyền đánh cá (Nghĩa).

Ấn tượng có thể nói là "Sinh" và "Hạnh". Ở bức thứ nhất, một đứa bé còn nguyên dây rốn đang bật ra tiếng khóc đầu tiên trong cuộc đời. Bức thứ hai, đó là nụ cười trên khuôn mặt cô dâu trong một đám cưới mà từ tân lang tân nương đến những người tham dự đều là người khiếm thị.

Giữa hai bức Sinh và Tử, Mỹ Dũng sắp đặt một loạt 10 bức vách bằng kính, trên mỗi bức có một con mắt. Một sợi dây thừng đi qua Sinh và Tử, luồn qua những con mắt, bên dưới là một bể kính, đầy những chữ Ơn, Nghĩa, Tiền, Tù, Phật, Pháp...


Sinh

Trên bức tranh "Tử", Dũng rải lên nhiều cái cúc áo, đó là một phong tục ở miền Trung, người qua đời, khi ra đi sẽ không mang cúc. Đây là sự cởi bỏ để ra đi thanh thản.

Tác giả giải thích đó là một chiêm nghiệm đời người qua 10 "cửa", thấm trải những giá trị, và đi qua bể khổ! Có lẽ ở anh, tư tưởng Phật giáo cũng đã thấm phần nào.

Không gian phía trên, Dũng để một tấm lưới, trên đó mắc lên khá nhiều hình nhân... anh nói: đó là "lưới trời lồng lộng"!

Tuy nhiên, một tác phẩm installtion thì không nên "chôn dấu" quá nhiều ý tưởng đến như thế. Và một tác phẩm kiểu này cũng không nên là "minh họa" cho một ý niệm sẵn có. Cũng chẳng nên cho chữ vào mà hãy để vật thể nói tiếng nói của nó. Nhưng thôi, đó là Mỹ Dũng, và anh tin yêu cái gì thì anh làm cái đó


Hạnh

Triển lãm "Những góc lặng" vừa mở ra tại Viet Art. Cái tên này thật ra hơi nhạt và hiền so với những gì có mặt trong triển lãm. Tham gia lần này có 3 người:  Mỹ Dũng với "I ABC NHÌN", nhà thơ, designer Huỳnh Lê Nhật Tấn với "Dấu nối sinh tồn" (tranh - thơ) và nghệ sĩ thị giác Nguyễn Mỹ Lê với "Cha mẹ tôi" (ảnh - video art)

                                                             Lê Anh Hoài

 

            ÁNH CHỚP TỪ MỘT GÓC

                                    BUỒNG TỐI TÂM HỒN


Mỹ Dũng là một trong những nghệ sĩ nhiếp ảnh tạo cho tôi nhiều xúc cảm nhất ở miền Trung. Tác phẩm của anh luôn đem đến những khoảng lặng, bất ngờ cho người xem vì hiệu ứng cô đặc của nó. Tôi ví anh như dấu chim nhòe trên biển hay cánh sóng đầu bạc trên đại dương. Giữa cái trùng vây của mêng mông ảnh Mỹ Dũng kết tinh, thu về trong một hạt muối vỡ môi.


Các cặp phạm trù Sanh - tử, Hạnh -  phúc, Ơn - nghĩa, Tinh - tù, Phật - pháp... đều là những vế đối ngẫu sinh tương khắc tương tàn. Trong mỗi sát-na đời sống, đôi khi như nghệ thuật là ánh chớp giữa cõi sanh - diệt.  Ý  nghĩa nghiệm sinh tình cờ được tìm thấy như ánh sáng trong đám cưới của người mù, một chiếc thuyền là " chiếc linh hồn nhỏ/ mang mang dạ cổ sầu" đi và về giữa nhân gian hư ảnh. Tất cả tạc tiếng vọng vang dài dọc hành trình tâm thức...

                                                                                     

Góc lặng của Nhiếp ảnh lần này thô giản chỉ vài ba "hạt muối" như thế trong góc buồng tối của tâm hồn. Đó là những âm bản ký ức của một cuộc đời quá nhiều phiêu bạt trần thế đốt mình trên từng cột số ảnh. Trong thứ ánh sáng chậm ấy, Mỹ Dũng chợt nhận ra mọi thứ khải dụ đều bắt đầu từ Ánh mắt & Cửa sổ. Từ "muối" cảm xúc, kết hợp thu lượm, nắm bắt may mắn, tài tình những khoảnh khắc minh định chớp lóe, người nghệ sĩ này, với tôi, đã  kiến tạo được một đời sống lâu dài cho những  tác phẩm nghệ thuật Nhiếp ảnh.

                                                          Sài Gòn, 23.2.2009.

                                                    Nguyễn Hữu Hồng Minh

                                                                                      

.

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

CHA MẸ TÔI NHỮNG CÂU CHUYỆN SỰ TRỞ VỀ

TT. 16 tuổi làm quen và say mê nhiếp ảnh, Mỹ Lê nghe mẹ dặn: "Con hãy kiếm một ngành học khác vì mẹ không có khả năng kinh tế để con theo con đường này".

Chọn ngành điều dưỡng, tốt nghiệp, đi làm rồi trở về VN gặp mặt người cha đã không còn hình dung được kể từ năm ba tuổi rưỡi, Mỹ Lê không ngờ rốt cuộc nhiếp ảnh vẫn là bạn đồng hành lặng lẽ - người giúp cô tìm thấy mình ngày một rõ hơn trong những cuộc trở về.


Mẹ với mỗi buồi chiều luôn tiếp diễn ...


Và là luồng chảy trong tâm thức lập lại ám ảnh Mỹ Lê

1- Là một phần trong triển lãm chung của ba nghệ sĩ Đà Nẵng mang tên "Những góc lặng" tại Hà Nội (21 đến 26-3), chùm ảnh Cha mẹ tôi cùng với một video art ghi hình những nhịp đạp của thai nhi của Mỹ Lê - cô gái sinh năm 1980 mang quốc tịch Canada, đã nhận được nhiều sự đồng cảm từ khán giả trẻ.
Cha mẹ tôi gồm 9 hình ảnh liên tục, cùng một góc độ, chụp tấm lưng của một phụ nữ lớn tuổi đối diện với màn hình tivi, trong đó có những gương mặt đàn ông khác nhau ở nhiều lứa tuổi.

Với thiết bị chỉ là một máy chụp hình kỹ thuật số thông dụng, chùm ảnh tưởng đơn giản này lại gợi ra không gian liên tưởng rộng lớn. 20 năm không được gặp mặt cha, hình ảnh người cha với một đứa trẻ chỉ hơn ba tuổi không có bất kỳ dấu ấn nào. Và câu chuyện Cha mẹ tôi được hoài thai từ nỗi đau đáu ấy của cô gái đã đến tuổi trưởng thành.

Để thực hiện chùm hình ảnh này, hơn hai tháng trời ngày nào Mỹ Lê cũng ngồi sau lưng mẹ với chiếc camera. Đôi khi người mẹ hỏi cô đang làm gì vì biết tính con gái hay nghịch ngợm, hiếu động, đôi lúc cũng không quan tâm. Mỹ Lê chọn chương trình tivi mẹ hay coi là một show nói về công việc điều tra của cảnh sát. Nhân vật chính trong chương trình này thường là nam giới, phần lớn là những người da trắng, họ có thể là người trẻ, trung niên... với những dung mạo khác nhau, như những hình dung khác nhau dưới đôi mắt ngơ ngác của một cô bé đang tìm cha mình.

Người cha ấy là ai, ở đâu, có phải cũng chỉ là những gì không thật, như những người đàn ông xuất hiện trên tivi kia, biết bao giờ và biết khi nào cô mới có dịp gặp và nói chuyện cùng? Ẩn dụ về việc sử dụng hình ảnh những người đàn ông bất kỳ xuất hiện trên tivi là một ý tưởng đắt. Trong khi đó mẹ vẫn thế, lúc nào cũng là mẹ ở ngay đó, đập ngay vào mắt là tấm lưng của mẹ, là sự gần gũi, thân thiết, là thực tại không hề màu mè, trong bộ đồ ngủ đơn giản, quen thuộc, ngay cạnh đây.

Kết thúc chùm ảnh là hình ảnh tấm lưng của mẹ đối diện với màn hình tivi vụt tắt. Tất cả đã kết thúc. Giống như một sự ảo tưởng, một sự hình dung nào cũng đến lúc phải chạm tới đích. Cái đích đó có thể đã tìm thấy, cũng có thể đã trở nên bít bùng.

2- Câu chuyện có thể được kết thúc ở đó, nhưng Mỹ Lê có cách gợi mở riêng của cô. Khán giả tới xem triển lãm được mời vào căn phòng rèm tối, sống với không gian câu chuyện của cô. Khi đã xem xong chùm ảnh, họ bất ngờ nhận thấy phía sau lưng là một video art quay hình ảnh những giọt nước nhỏ xuống một bụng bầu lớn cận kề ngày sinh nở.

Những giọt nước rơi xuống, nhịp đạp của thai nhi để lại những vết nhún nhảy trên bề mặt chiếc bụng bầu. Có ai đó muốn hỏi sự liên quan giữa chúng và với vốn tiếng Việt hạn chế, Mỹ Lê chỉ biết nói rằng cô cảm nhận có một sự nối kết giữa chùm ảnh và video art này.

Nhưng người xem có thể nhìn ra điều mà nữ nghệ sĩ trẻ này đã cảm mà chưa diễn tả được thành lời. Đó có thể là niềm mong ước của cô gái về một sự tái sinh khác, tốt đẹp hơn, được có một số phận bình thường hơn. Đó là được sinh ra là một đứa trẻ, bắt đầu lại từ đầu để có cả cha và cả mẹ như lẽ thông thường phải thế.



Nguyễn Mỹ Lê những ngày góc đời yêu thương

Chùm ảnh được thực hiện tại Canada nhưng video art được Mỹ Lê thực hiện ngay trong những ngày đầu khi cô về VN năm 2009. Canada là một nước dân số già, người mang bầu quá hiếm để cô tìm kiếm mẫu.

Tình cờ trong lúc tìm khách sạn khi về Đà Nẵng, cô bắt gặp người phụ nữ Argentina đang mang bầu ngồi ở sảnh, cảm giác người phụ nữ này sẽ đồng ý tham gia dự án của mình, cô chọn khách sạn đó để ở lại. Đã sắp tới ngày sinh nở, đi lại khó khăn và mệt mỏi bởi cái nắng nóng của miền Trung, nhưng người phụ nữ không lộ mặt trong video art kia vẫn cố gắng giúp Mỹ Lê và đã đóng góp không nhỏ vào sự hoàn thành của toàn bộ ý tưởng câu chuyện Cha mẹ tôi.

Mong muốn cha có mặt tại lần triển lãm ở Hà Nội vừa rồi, nhưng vì một vài lý do ông không tới được. Tới giờ phút này, Mỹ Lê vẫn không hiểu cha mình sẽ nghĩ gì khi xem câu chuyện được cô dựng lên. Nhưng hơn tất cả, điều cô mong muốn nhất vẫn là sự bộc lộ những suy nghĩ, trải nghiệm về mặt cảm xúc của cô trong cuộc hành trình đi tìm hình dong, tính cách và những gì thân thuộc của người đàn ông được cô yêu thương gọi là "ba".

                        ĐIỆP GIANG ( Tuổi trẻ)

(3) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

TRIỂN LÃM NHỮNG GÓC LẶNG

Một cuộc triển lãm mang tên: " Những góc lặng" của 3 tác giả với 3 chủ đề khác: 1. Nhìn! / Mỹ Dũng 2. Dấu nối sinh tồn / Huỳnh Lê Nhật Tấn 3. Cha Mẹ Tôi / Nguyễn Mỹ Lê sẽ khai mạc vào lúc 17h00 ngày thứ 7 ngày 21.3 đến 26.3.2009. Với ba cách nhìn khác và tính sắp đặt trong photography và tranh graphic art hy vọng sẽ đem đến công chúng yêu nghệ thuật thưởng lãm nhiền niềm vui mới.

 

 

 

 

 

(5) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

TẬP THƠ ĐOÀN MINH CHÂU

 


Mùa Đông cuối năm 2008, có một tập thơ do tác giả tự xuất bản. Quy mô của việc in bằng máy vi tính, với số lượng khiêm tốn 50 bản chưa đủ tặng cho bạn hữu và những người yêu thơ trong phạm vi thân thiết nhất, thực là nhỏ bé. Tuy nhiên ý nghĩa của hành vi này lại hàm chứa những hạt nhân không thể coi nhẹ đối với những ai quan tâm tới sinh hoạt văn học

Đó là tập M - N & Z của Đoàn Minh Châu do Minh Châu xuất bản; kích thước 13×19cm, 57 trang ruột, in trên giấy ngà vàng; bìa màu kem, chỉ trình bày kiểu chữ viết tay nhan đề. Tập thơ gồm 49 bài và 8 trang minh họa của chính tác giả.

                                                    Nguyễn Tiến Văn

Sau đây là một số nhận xét về tập thơ:

1.

Điều trước tiên phải nói là về tác giả. Một nữ nhà thơ gốc Quảng Nam, sinh năm 1984 trong một gia đình cha mẹ đều là nhà giáo, đã tốt nghiệp đại học và hiện sống tại Đà Nẵng. Đoàn Minh Châu đã từng có thơ in trên mạng, trên báo chí, trong các tuyển tập từ vài ba năm nay, và có một số giải thưởng.

Tập thơ này gồm những sáng tác từ 2002 cho tới bài mới nhất làm trong tháng 11-2008. Gần như toàn bộ các bài thơ đều có ghi năm tháng và nhiều lần cả ngày sáng tác (trừ bài "Cảm ơn anh" ở trang 20, và bài "Muộn" ở trang 49) - cho nên ta có thể xem đây như một tập thơ-nhật ký của một người con gái Việt Nam từ năm 21 đến năm 24 tuổi. Nếu lập một bảng thống kê về tháng năm sáng tác, thì trừ bài đầu tiên làm năm 2002, trong tập này có 8 bài làm năm 2005; 18 bài làm năm 2006; 13 bài làm năm 2007; và 9 bài làm năm 2008.

Đây là một tập nhật ký-thơ về những cảm xúc, suy tư, và trải nghiệm của một người thiếu nữ sau 18 năm sống ở một thị trấn miền Trung; 4 năm sống ở thủ đô Hà Nội - những năm đi học; 2 năm sống ở thành phố Đà Nẵng đi làm việc. Tất cả những sáng tác này vừa đặc trưng cho tác phẩm đầu tay của một nhà thơ, có những e dè, cầm chừng; vừa đại diện cho hàng triệu thanh niên đương thời. Tập thơ rất có thể xuất hiện theo đường lối quan phương chính thống, tức là qua biên tập và xuất bản theo lề lối hiện hành của xã hội Việt Nam ngày nay. Nhưng tác giả đã tự chọn đường lối độc lập trong phát biểu và xuất bản. Đây là một quyết định đầu tiên và duy nhất cho tới nay đối với một nhà thơ nữ ở miền Trung, cũng như miền Nam và miền Bắc thời XHCN. Ngay cả ở một trung tâm vừa đông dân vừa quan trọng nhất về văn hóa và kinh tế hiện nay là Sài Gòn, các nữ tác giả cũng khá e dè trong công việc tự chịu trách nhiệm và tự xuất bản tác phẩm cá nhân của mình. Có một vài trường hợp hiếm hoi, vì vấp váp một vài khó khăn trong việc xin phép xuất bản chính thống thì mới chọn đường lối bên lề, in lên mạng... cho "hả giận", cho ra vẻ mình "dũng cảm". Cho nên, với một hành động vốn nhỏ bé và cũng khá đơn lẻ, nhẹ nhàng của Đoàn Minh Châu, tôi cho đây là một điểm son cần ghi nhận.

2.

Tập M - N & Z tập trung vào vũ trụ thân thiện của tác giả, là một thiếu nữ trưởng thành tại môi trường nông thôn và thị trấn nhỏ. Tất cả những tình cảm và tư tưởng tiêu biểu cho một thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh hàng chục năm, được hấp thụ những lối nhìn và cách sống cùng thời trên thế giới qua văn học và nhất là kỹ thuật học thông tin đương đại, trong đó quan trọng nhất là ý thức về nữ tính và nữ quyền cũng như tính hậu hiện đại và chủ nghĩa hậu thuộc địa.

Ý thức về nữ tính và nữ quyền ở đây nổi bật trong cách nhìn lạnh và sắc về quan hệ nam nữ trong luyến ái. Xa rồi cái thời hồn nhiên ngớ ngẩn của chủ nghĩa Lãng mạn thời tiền chiến với Thơ Mới (1932 - 1945). Khi đó thanh niên nam nữ tin vào tính tuyệt đối và thiêng liêng của ÁI TÌNH - coi đó như lý tưởng và chung đích của cuộc sống, có thể tự tử vì thất tình như cái lý do đương nhiên thích đáng, không cần biện minh.

Trong bài "Cảm ơn anh" (trang 20), Đoàn Minh Châu viết:

Em đã từng nghi ngại vào sự vĩnh hằng của tình yêu

mơ hồ với dấu hỏi to tướng cuộn tròn vọng tưởng tím than ủ giấc ngủ con gái

và khi quan hệ đổ vỡ, tác giả bình tĩnh viết:

Cảm ơn anh!

đập nát những nghi ngại trong em

vọng tưởng vỡ bung bốc mùi thối khẳm

để rồi kết thúc bằng:

Cảm ơn anh nhiều!

sau cuộc vui ồn ào

sau nỗi buồn ồn ào

em không khóc đâu

những giọt máu chảy từ hốc mắt

sẽ không dành cho bất kì gã đàn ông chết tiệt nào nữa!

Một trong những nguyên tắc chủ chốt của tinh thần nữ quyền là ý thức rất rõ về thân phận người nữ với chức năng sinh học tâm lý đặc thù của phái tính mình như Simone de Beauvoir (1908-1986) đã vạch rõ trong tác phẩm Phái tính thứ hai (Le Deuxième Sexe, 1949): sinh học là định mệnh. Người nữ chấp nhận cái đặc thù tâm sinh lý của mình nhưng đề kháng với các sự đàn áp của phụ quyền và nam quyền như một chuyên chế bất công trong lịch sử chứ không phải chân lý khoa học hay vĩnh hằng. Vì thế khẩu hiệu từ những phong trào tranh đấu cho phụ nữ là: "Cái thiết thân là cái chính trị; cái chính trị là cái thiết thân" (The personal is the political; the political is the personal). Người phụ nữ phải kiên trì làm chủ thân thể và vận mệnh của mình, không chấp nhận những giáo điều luân lý, tập tục xã hội đặt ra để đàn áp và coi đó là chân lý muôn đời, là thiên kinh địa nghĩa.

Trong bài "Chìm" (trang 24), Đoàn Minh Châu viết:

Khi em vớt thân thể mình ra khỏi chậu nước

thấy rớt lại những nụ hôn ngày xưa

xếp hàng dài như con đường trước mắt

từ đâu giọng nói trong cơn mộng du bò trên núm ngực hoang sơ màu hạt dẻ

loãng vào bầu trời đổi màu ngôi sao chết yểu

Thân thể và những trải nghiệm được nhìn một cách lạnh sắc và khách quan vì không để cho những thành kiến xã hội và giáo điều đại tự sự chi phối đến, trở thành sự tha hóa.

Đoàn Minh Châu cũng không như các nữ tác giả cùng thời thường xem mình như là một phần lệ thuộc của đàn ông nên khi viết cứ hay xưng chủ thể tôi như là một yếu tố "em" bị lệ thuộc-làm như không có anh thì em không còn được sống như chính mình.

Cho em nắng óng cất từ màu da Anh

Cho em tiếng cười từ khoé môi rộng lượng Anh

Cho em ngủ ngon trong vòng ôm định phận của Anh

("Cất giấu", Vi Thùy Linh)

Chủ động kêu đòi được yêu, kêu đòi được hạnh phúc... cũng là một tinh thần của nữ quyền, nhưng ở Vi Thùy Linh vẫn có cái gì đó như lệ thuộc, như van nài và luôn giữ khoảng cách. Và một điểm cũng để suy nghĩ là Vi Thùy Linh hay viết hoa chữ "anh", còn viết thường chữ "em".

Đoàn Minh Châu cũng đi ra từ bầu khí quyển chung đó, nhưng đã nhanh chóng phá bỏ sự lệ thuộc ấy (như trong bài"Cảm ơn anh"), để tìm kiếm một giá trị tự thân, chấp nhận vào một không gian sống rất cô đơn, nhưng cũng rất can trường:

Em mang hình dạng của con bù nhìn rơm đặt giữa ngã tư phố đông

khoác mảnh vải rách chắp nối ý muốn người khác

chân trần gậy khô

trên thành phố ngập ứ cuộc mưu sinh

lẩn quẩn với ý nghĩ rơm rạ mê mải tìm một không gian lẻ.

Khác với những nhà thơ nữ như Thảo Phương, ca ngợi "người đàn bà do đàn ông sinh ra"; như Vi Thùy Linh đặt người bạn tình là tất cả ý nghĩa đời sống; những nhà thơ trong nhóm Ngựa Trời với tập Dự báo phi thời tiết được giới thiệu, hỗ trợ bằng những "uy tín" trên văn đàn của phái nam, Đoàn Minh Châu xuất hiện không hình ảnh, không tiểu sử, không tựa, bạt hay nhận định phê bình của ai. Cô đơn và kiêu hãnh như thế hệ nhà văn - nhà thơ nữ tự chủ phải thế, một tinh thần cần tôn trọng và khích lệ trong thế kỷ 21 mới mở ra này.

3.

Tập thơ mở ra với lời đề tặng cho mùa Đông và với bài "Những con đường" (2002). Nhìn bàn tay bao đường ngang dọc, tác giả tự hỏi :

Nhân gian có mấy con đường

mà một tay đã ngàn lối rẽ?

Thắc mắc trong bài thơ đầu đời này có thể gợi ra nguồn mạch ngạc nhiên của thơ Đoàn Minh Châu. Đây là ngạc nhiên của hàng triệu thanh niên, nhất là giới nữ từ quê ra thành thị để học hành, lao động. Xã hội Việt Nam đang làm một cuộc đổi mới lớn lao chưa từng có trong lịch sử: sự đổ xô ra thành thị của đông đảo người dân của một nước nông nghiệp đang đi vào công nghiệp hóa. Những bài như "Phố" (trang 5):

xoè tay hứng mặt người chảy dòng dòng quết dày mặt phố

ngẫu nhiên thấy mặt ai trong đó

quen quen như mặt mình.

hay bài "Không ngủ" (trang 10):

(- 5 cái giường tầng bé

- căn phòng 10 đứa

- 5 cái tủ vải cũ

- 3 ô cửa sổ bụi

giá có một quả gì ụp xuống thì hay nhỉ?)

7 năm trời làm thơ (trong đó 2 năm trống vắng có lẽ vì việc học và việc thích ứng sự thay đổi nếp sinh hoạt từ quê ra thủ đô), chọn lọc được 49 bài để công bố là một mùa gặt đầu tiên của Đoàn Minh Châu.

Tiếng thơ mới mẻ và rất trẻ này không phải là một kiệt tác nhưng đã xác định được một nhà thơ có bản sắc. Tác giả nắm vững kỹ thuật thơ trong việc dùng hình tượng và ngôn ngữ - nhất là sự vững vàng trong việc định vị sáng tác và xuất bản. Sự chân thật không làm dáng và cầu trợ nơi người khác - khiến người ta chào đón tập thơ M - N & Z của Đoàn Minh Châu như báo hiệu cho một tiếng thơ sáng giá. Điều này cũng báo hiệu cho một mùa gặt mới của thơ, đặc trưng của giới nữ, không bị điều kiện hóa vì những ý hệ đại tự sự và những hoang tưởng của phái nam từ mười ngàn năm nay, với chế độ phụ quyền, nam quyền nay đang bị ném vào thùng rác của lịch sử.

4.

Cuối cùng, nhan đề tập thơ là một mật mã hay một ẩn số mà mỗi người đọc đều có thể thông giải theo cảm nhận riêng của mình. Nó mang cả tính cách ngắn gọn, súc tích như đại số của thông tin trên mạng, trên blog, và trên điện thoại di động. Có thể đọc là " em với anh và vô tận", " em trừ anh và ẩn số", " em với anh và số không (zero)", " Minh Châu với người và thiền (zen)". Một thú vị của nhan đề này là nó sẽ giữ nguyên được diện mạo khi xuất hiện (nếu có) trong bất cứ bản dịch ra ngôn ngữ văn tự nào khác.

Sài Gòn 7-1-2008.

-----

M - N & Z, tập thơ của Đoàn Minh Châu, do Minh Châu xuất bản tại Đà Nẵng, năm 2008. In lần thứ nhất 50 bản photocopy. Ak trình bày và vẽ bìa. Minh họa: Đoàn Minh Châu. Tác giả giữ bản quyền.

                                              Nguyễn Tiến Văn

(1) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

HỌA SĨ LÊ BÁ ĐẢNG MUỐN ĂN PHẢI LĂN VÔ BẾP

Xem tranh Lê Bá Đảng, người thưởng ngoạn sẽ lập tức bị rơi vào thần thái - nội tâm riêng của chính tác giả bằng một đôi cánh bay... Nơi đó là hình ảnh phong sương từ ô thửa ruộng, bàn chân Giao Chỉ, hay là sự giao thoa nơi cõi mộng. Không gian Lê Bá Đảng là sự im lặng, tha thiết khi ông nắm lấy đôi tay rung cảm nơi "cõi thiền", gợi lên cảnh giới sắc sắc, không không. Từ thành phố Huế, ông dành những tâm sự riêng của mình với bạn đọc Thanh Niên Tuần San.

*Hơn 60 năm cầm cọ và sáng tạo, ông có thể nói đến gì về "Vẽ" -  một khái niệm hình như không dễ nói với chính các họa sĩ?
- Bà con gắn cho tôi cái danh hiệu họa sĩ. Và đã là họa sĩ thì cả đời chỉ biết vẽ. Tôi vẽ để mà sống và sống để mà vẽ. Mỗi sáng mở mắt ra xông vào vẽ mọi thứ, vẽ trời, vẽ đất, vẽ mây, vẽ cả trâu, bò, gà, vịt, chim chóc, chó ngựa, vẽ cây, vẽ cối, vẽ cây ngô đồng: "Không trồng mà mọc, em chưa có chồng anh chọc anh chơi". Vẽ ánh sáng, vẽ tối đen như mực, vẽ gió rồi vẽ mưa, vẽ trời vẽ đất, vẽ thánh thần ma quỷ. Tôi vẽ cả tấm lòng khi giận khi yêu đương, vui buồn và tư lự. Như lời tâm niệm: "Ngày có thì vẽ có - Ngày không thì vẽ không. Vẽ không sẽ thành có, có có không không".


 

* Điều gì làm ông ấn tượng, hay nghiền ngẫm nhiều trong đời sống hội họa?

- Riêng vẽ "mèo" là tôi vẽ để bán buôn, nuôi vợ đẻ con, ăn no mặc ấm, nhà cửa sang trọng như ai. "Ai bảo mèo là con vật bình thường, xó bếp?". "Ai dám nói dân quê chỉ biết đi cày, không biết vẽ tranh?". Tôi vẽ mèo là để trả lời hai câu hỏi "thường tình" đó. Vẽ cái gì tôi cũng nghiền ngẫm cả. Những lúc mưa thuận gió hòa, ông bà giúp đỡ, tôi vẽ cho những ai có tấm lòng hé mở, có môi cười duyên dáng, có tình cảm giữa con người với đất nước. Vẽ cả giận dữ yêu đương, thương với ghét. Vẽ cõi vô hình...

Những thứ mà ông không thích vẽ?

- Tôi ít vẽ cô gái lẳng lơ, không áo chẳng quần để nịnh hót con mắt loại mê dâm, ù ỳ gật gật...

* Được biết, dù xa quê nhiều năm, nhưng trong lòng ông, quê hương vẫn như là da thịt, là khối óc và cả tấm lòng mình. Làm sao ông giữ được điều ấy lâu bền đến vậy?

Tôi ở xa quê hương ngàn dặm đã mấy chục năm dài đằng đẵng (từ năm 1939 - 1976), lúc đất nước đang có giặc ngoại xâm. Tôi đành dựa theo văn hóa, lịch sử truyền thống, cảnh sắc, đời sống của dân tộc để vẽ lại cái kiêu hãnh của giống nòi, vẽ những cái chưa ai vẽ, vẽ tranh chống giặc, triển lãm khắp nơi để chống ngoại xâm, vẽ con đường mòn Hồ Chí Minh vĩ đại để ca tụng và nhớ ơn vạn ngàn chiến sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc.



* Đối với bản năng của nhiều họa sĩ thì chính nội tâm mình là tác phẩm, ông đi tìm trong chất liệu cho tác phẩm thế nào?

- Tôi lấy cả mảnh máy bay B52 bị bắn rơi để làm tác phẩm. Tôi đập phá, mài, dũa, làm thành tác phẩm chống giặc và cho chúng biết là cái sức mạnh không phải ở chiếc máy bay hung ác của chúng mà ở đôi bàn tay mềm dẻo này đây. Ý chính của tôi là làm đẹp cái cũ, làm sang cho đất nước và cả linh hồn dĩ vãng. Cái đẹp nhiều khi tự nhiên tầm thường, như chưa hề có bất cứ ở đâu? Mỹ thuật hay không mỹ thuật tôi không hề biết. Mỗi lúc tôi chọn một kiểu chất liệu cho tác phẩm.


* Xin ông cho biết từ những cuộc triển lãm trong nước, festival Huế, Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng, ông nghiệm ra điều gì mới  trong cái đẹp khi nhìn về Việt Nam hôm nay?

- Vừa qua, tôi có đề nghị với chính quyền Huế dựng lên một tác phẩm (tranh) dài mấy trăm thước, lót trên đường, dọc theo bờ sông Hương mà du khách có thể đi lại trên tranh và đóng vai trò "phần tử của tranh". Cùng một lúc tôi đề nghị dựng lên một thành "Ốc" xoáy cao lên như hình con ốc (đền Cổ Loa) để du khách leo lên đỉnh cao tìm thêm cái mới, cái lạ, của Huế, đẹp tự nhiên mà chưa ai có.



Đây là một đường lối mỹ thuật Việt Nam chứ không còn bắt chước nước ngoài nữa. Tuy nhiên, cái đẹp đó cũng cần đi đôi với sống đẹp nữa. Những cái đẹp này thu hút khách du lịch, giúp bà con sống bằng vật chất... Hiện giờ ước mơ của tôi là làm sao để Huế có thể trở nên một "kinh đô mỹ thuật", sang trọng, chưa đâu có. Nhưng "một cây làm chẳng nên non", nói vậy để biết tôi không phải tự cao, kiêu hãnh. Theo tôi nghĩ thì vẻ đẹp của đời sống là cái trường tồn. Và khi người ta càng giàu có thì càng cần đến. Vậy còn chần chờ gì nữa, "muốn ăn thì phải lăn vô bếp".
Vài nét về họa sĩ

Họa sĩ Lê Bá Đảng sinh ngày 26.7.1921 tại làng Bích La Đông, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sang Pháp năm 1939, đã tham gia vào đội quân chống phát xít của nước Pháp, bị Đức Quốc xã bắt làm tù binh. Sau đó ông học tại Học viện Nghệ thuật Toulouse và trở thành một họa sĩ có tên tuổi ở châu Âu.

Triển lãm đầu tiên của ông ra mắt tại Paris năm 1950. Năm 1989, ông đã nhận giải thưởng "Nghệ sĩ có tài năng lớn và tư tưởng nhân đạo" của Viện Quốc tế Saint-Louis của Mỹ. Năm 1992, được Trung tâm tiểu sử quốc tế thuộc Đại học tổng hợp Cambridge của Anh đưa vào danh mục những người có tên tuổi của thế giới. Năm 1994, được Nhà nước Pháp tặng "Huân chương văn hóa nghệ thuật Pháp". Năm 2005, ông được nhận Huy chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước và nhận danh hiệu Vinh danh nước Việt do báo điện tử VietnamNet phối hợp với UBMTTQ Việt Nam trao tặng. Năm 2006, ông cùng UBND tỉnh Thừa Thiên -Huế xây dựng Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng tại 15 Lê Lợi, TP Huế.

                                          Huỳnh Lê Nhật Tấn (thực hiện)

(6) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

PHOTOGRAPHIC MANG TÍNH THẤU HIỂU

Trong cơn mưa lạnh ngày không nắng & cuộc hội ngộ bên kia bờ ngó qua kia bờ. Một dòng sông Hàn im vắng cổ tích chuyện chuyến phà năm cũ. Nó như lặng dòng cô đơn dòng chảy tuổi thơ tôi & chúng đã thiếu tiếng đò sang.


Đặng
Ngọc Khoa người đi tìm sự thấu hiểu

Chiếc bàn nhỏ vẫn quen thuộc ly cốc, đũa đôi trên môi khô và hơi men tình người, 6 khuôn mặt trong cái nhìn riêng tư lướt đi giữa sợi tóc đổi màu với người bạn vong niên. Người chụp có đôi mắt nhìn nhày cảm về cuộc sống diễn tiếp. Tôi ghi vào câu thơ bí ấn liên tưởng về tư chất mỗi người bạn hữu. Ám ảnh được ghi lại trong 6 phút tửu hậu khi anh thấu nghiệm giữa mọi người xung quanh cả sự vật phơi bày trong hơi lạnh mùa noel lạnh giá.


Huỳnh Lê Nhật Tấn trong đôi mắt nhìn chim ưng

Tôi trông thấy anh chụp cái miệng lách tách âm tán tỉnh, đôi mắt ngỡng nhìn vô vọng cánh chim đại bàng, đôi tay động đậy nhục cảm ê ấp, một vàch trán rộng khổ ải thời cuộc, kẻ phiêu du trên giọt mưa lạnh ủ ấm ước mơ xa rời. Đó là 6 trạng thái bé nhỏ, một mệnh đề hoàn toàn khác lạ bởi chúng ta tôn trọng sự đơn giản hình thành ra ý tưởng trong cái gọi: " bé và lớn" bằng cách thể hiện gọn,  nhanh chóng tính công nghệ thông tin, kết hợp tính cộng đồng để đưa vào sự khơi mở ý tưởng cho nền nghệ thuật đương đại.



 
Trần Thiên Thị cười trong âm môi

Và đó là câu chuyện kể của Đặng Ngọc Khoa với năm người có mặt. 6 khuôn mặt trong 6 đôi mắt : Đặng Ngọc Khoa, Trần Thiên Thị, Đa Mi, Tiểu Yến,  Hạo Nguyên, Huỳnh Lê Nhật Tấn nhận diện từ Đặng Ngọc Khoa chủ xướng trình bầy lên  khái niêm của 6 câu thơ khám phá, 6 thái độ sống, 6 sự khác nhau...


 
Bàn tay dương tính trong cõi lạnh


Người chụp thí dụ về siêu thực có vẻ mặt bương chải sóng gió như chiếc lược củ va chạm đối thoại để ý niệm vứt bỏ vào bản năng, chúng mặc sức giản đơn. Tôi mê hoặc 6 đôi mắt khác, 6 cái nhìn khoảng khắc khác lạ ghi lại.


  ĐaMi nhìn mưa se lạnh vui buồn

Một ý tưởng siêu thực nhân rộng từ Đặng Ngọc Khoa chụp ảnh. Anh có quyền đảo lộn để hình thành cái khoái trá đời thường. Huỳnh Lê Nhật Tấn thể hiện lại bằng thức tỉnh mang tính nghệ thuật cộng đồng, liệt kê thành dự án nhỏ và mọi người có thể hiện cho người thân, nhóm bạn bè Vnweblogs group từ sự đơn giản mà phức tạp.


  Tiếu Yến nụ cười của Gián (g)

Từ một dự án nhỏ với chiếc máy ảnh số, trên di động và phần mền Photoshop để nhận diện rõ từng người, ánh sáng và cái nhìn thấu hiểu vẻ thân thiện. Xin giới thiệu xem như món quà nhỏ nhân ngày noel lạnh giá Chúa sinh ra đời trong âm thanh giao hòa tươi vui.


                                     Huỳnh Lê Nhật Tấn 
                                Thể hiện lập ngôn

(15) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

CƠN ĐIẾC TRIỀN MIÊN






vết lộ xanh giữa trời

cắt từng lát máu đông thả trên sông


Em đổ trí nhớ anh từng nải màu đỏ ám lặng
Tôi dậy thì trở lại vẽ cạn
ép lòng xoắn con cá lên bờ đôi đi...

tuổi thơ về bằng đầu tay chân đâm chấm chảy dòng sao đêm
nhấp nhánh tỏ vàng. Hay mọi sắc thái ù lỳ biến đi

Lột vỏ bàn chân thế kỷ chậm đất
giũ khô cơn đói chữ không một bình minh

Tôi uốn khái niệm - ịn đẻ bỏ vứt áp đặt thành trì dối trá
bỏ đi âm gõ tiếng đọc diễn dọc
lên đầu tôi tiếng lách chách thị ám
Ướt hiện tiết trời đen.
Ý nghĩ cứ lờ mờ ù ơ...

Em bỏ anh đi...
Những đêm dài ngáp máu khô mơ phố lạ
Mắt bất tuyệt che lấp vĩ tuyến mười bảy hành kinh
Đã trọn vẹn khuôn mặt cắn sự sống anh tím bầm

Thổi từng góc vuông
vi trùng trí tuệ nở sinh.

Hà Nội 14/9/2007

(16) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

1 2 3  Sau»